Sudan
|
Cộng hòa Sudan
|
|
|---|---|
Tên bản ngữ
| |
Quốc ca: نحن جند اللّٰه، جند الوطن Naḥnu jund Allah, jund al-waṭan "Chúng ta là chiến sĩ của Allah, chiến sĩ của Tổ quốc" | |
Vị trí của Sudan | |
| Tổng quan | |
| Thủ đô và thành phố lớn nhất | Khartoum |
| Ngôn ngữ chính thức | |
| Sắc tộc |
|
| Tôn giáo (2022)[1] | |
| Tên dân cư | Người Sudan |
| Chính trị | |
| Chính phủ | Cộng hòa liên bang dưới một chế độ quân quản[16][17] |
• Chủ tịch Hội đồng Chủ quyền Chuyển tiếp | Abdel Fattah al-Burhan |
| Malik Agar | |
| Kamil Idris | |
| Lập pháp | Hội đồng Lập pháp chuyển tiếp |
| Lịch sử | |
| Hình thành | |
| 2500 TCN | |
| 1070 TCN | |
| k. 350 | |
| k. 1500 | |
| 1820 | |
| 1885 | |
| 1899 | |
• Độc lập | 1 tháng 1 năm 1956 |
| 25 tháng 5 năm 1969 | |
| 6 tháng 4 năm 1985 | |
• Nam Sudan ly khai | 9 tháng 7 năm 2011 |
| 19 tháng 12 năm 2018 | |
• Dự thảo Tuyên bố Hiến pháp 2019 có hiệu lực | 20 tháng 8 năm 2019 |
| Địa lý | |
| Diện tích | |
• Tổng cộng | 1.886.068 km2 (hạng 15) 728.215 mi2 |
| Dân số | |
• Ước lượng 2024 | 50.467.278[18] (hạng 30) |
• Mật độ | 21,3/km2 (hạng 202) 55,3/mi2 |
| Kinh tế | |
| GDP (PPP) | Ước lượng 2025 |
• Tổng số | |
| GDP (danh nghĩa) | Ước lượng 2025 |
• Tổng số | |
• Bình quân đầu người | |
| Đơn vị tiền tệ | Bảng Sudan (SDG) |
| Thông tin khác | |
| Gini? (2014) | trung bình |
| HDI? (2023) | thấp · hạng 176 |
| Múi giờ | UTC+2 (Giờ Trung Phi) |
| Cách ghi ngày tháng | dd/mm/yyyy |
| Giao thông bên | phải |
| Mã điện thoại | +249 |
| Mã ISO 3166 | SD |
| Tên miền Internet | |
Sudan,[b] quốc hiệu là Cộng hòa Sudan,[c] là một quốc gia ở châu Phi, nằm ở điểm giao giữa Sừng châu Phi và Trung Đông, giáp với Ai Cập ở phía bắc, Biển Đỏ ở phía đông bắc, Eritrea và Ethiopia ở phía đông, Cộng hòa Trung Phi ở phía tây nam, Tchad ở phía tây, Libya ở phía tây bắc và Nam Sudan ở phía nam. Sudan có diện tích lớn thứ 16 trên thế giới.
Từ năm 1989 đến năm 2019, một chính phủ quân quản do Omar al-Bashir và dưới Đảng Đại hội Quốc gia đứng đầu nắm quyền tại Sudan. Chế độ quân quản vi phạm nhân quyền nghiêm trọng, bao gồm tra tấn, đàn áp các nhóm thiểu số, tài trợ cho khủng bố theo cáo buộc của Hoa Kỳ và tiến hành diệt chủng tại Darfur trong giai đoạn 2003–2020. Ước tính từ 300.000 đến 400.000 người bị chế độ sát hại. Trong Cách mạng Sudan, quân đội tiến hành đảo chính lật đổ Bashir sau khi người dân biểu tình đòi Bashir từ chức.[22] Từ năm 2023, Sudan rơi vào cuộc nội chiến thứ ba giữa Lực lượng Vũ trang Sudan (SAF) và Lực lượng Hỗ trợ nhanh (RSF).
Từ năm 1983 đến năm 2020, Hồi giáo là quốc giáo của Sudan và Sharia được áp dụng. Sudan là một nước kém phát triển nhất và một trong những nước nghèo nhất trên thế giới,[23] xếp hạng thứ 170 về Chỉ số phát triển con người vào năm 2024 và thứ 185 về GDP bình quân đầu người danh nghĩa. Nền kinh tế Sudan phụ thuộc vào nông nghiệp do bị quốc tế trừng phạt cùng với lịch sử bất ổn chính trị, bạo loạn. Hơn 60% dân số Sudan sống dưới chuẩn nghèo. Sudan là một thành viên Liên Hợp Quốc, Liên đoàn Ả Rập, Liên minh châu Phi, COMESA, Phong trào không liên kết và Tổ chức Hợp tác Hồi giáo.
Lịch sử
[sửa | sửa mã nguồn]Phần lãnh thổ phía Bắc của Sudan thuộc Vương quốc Nubia cổ xưa. Trong thiên niên kỉ I TCN, người Ai Cập đến thành lập các vùng định cư ở Sudan, dần dần phát triển thành vương quốc Kush. Trong những thế kỉ sau đó, khi Ai Cập suy tàn, vương quốc Kush bảo tồn nền văn hóa Ai Cập. Vương quốc này bị người Aksum thuộc phía Bắc của Ethiopia tiêu diệt vào khoảng giữa thế kỷ IV.
Vào thế kỷ VI, các nhà truyền giáo đến thành lập các nhà nước cùng chung sống với người Ả Rập Ai Cập Hồi giáo trong hơn 600 năm. Những người không thuộc cộng đồng Ả Rập nắm quyền kiểm soát Ai Cập đã khuyến khích các bộ lạc du mục Arập di chuyển đến vùng Thượng Ai Cập và tiến hành các cuộc cướp phá dọc theo biên giới Sudan. Cuối thế kỷ XIII, người Ả Rập xâm chiếm vương quốc Nubia phần lớn là người Cơ đốc giáo và định cư tại Sudan. Vương quốc Alwa ở miền trung Sudan bị một dân tộc không rõ nguồn gốc từ phía Nam đến chinh phục.
Thống nhất với Ai Cập
[sửa | sửa mã nguồn]Năm 1820, phó vương Ai Cập là Muhammad Ali Pasha đánh chiếm lấy miền bắc Sudan rồi lại phái con là Ibrahim Pasha đánh tràn xuống phía nam. Cháu của Muhammad Ali sau khi lên ngôi là Ismail I tiếp tục củng cố chủ quyền của Ai Cập trên đất nước Sudan.
Loạn Mahdi
[sửa | sửa mã nguồn]Năm 1879, các cường quốc châu Âu can thiệp vào nội bộ Ai Cập, bắt Ismail phải thoái vị và lập hoàng tử Tewfik lên làm vua. Tewfik lại nhu nhược, nạn tham quan hoành hành nên ở Ai Cập có loạn Orabi. Vua Tewfik phải cầu viện nước Anh để dẹp loạn. Trong khi đó ở Sudan thì Muhammad ibn Abdalla dấy binh, tự xưng là "Mahdi" (thủ lĩnh) quyết càn quét đất nước khỏi bọn ngoại xâm và phục hưng đạo Hồi. Dân theo về rất đông. Mahdi kéo binh về vây đánh thủ phủ Khartoum. Thành ấy vỡ; tướng Charles George Gordon người Anh, được vua Ai Cập bổ nhiệm làm thống đốc Khartoum cũng tử trận theo thành. Quân đội Ai Cập phải rút khỏi Sudan.
Thời Mahdi trị
[sửa | sửa mã nguồn]
Muhammad ibn Abdalla dưới danh hiệu Mahdi thành lập một quốc gia thần trị, áp đặt luật pháp Hồi giáo rất khắt khe. Các sách vở cũ liên quan đến hình luật và tín ngưỡng cựu triều đều bị đốt hết để thanh lọc xã hội.
Được sáu tháng thì Mahdi mất vì bệnh thương hàn. Phó tướng Abdallahi ibn Muhammad lên thay, tự xưng là Khalifa (thống lĩnh) nước Sudan.

Abdallahi ibn Muhammad mở chiến dịch bành trướng, đánh sang Ethiopia năm 1887. Hai năm sau quân Sudan xâm lăng Ai Cập nhưng bị quân Ai Cập dưới sự chỉ huy của sĩ quan Anh đánh bại ở Tushkah. Các cuộc hành quân xuống miền nam Sudan thì bị quân Bỉ chặn đứng. Ở Eritrea quân Sudan cũng bị quân Ý đánh bại. Chuỗi bại trận liên tiếp phá tan giấc mộng bá chủ bách thắng của quân Sudan.
Sudan thuộc Anh-Ai Cập
[sửa | sửa mã nguồn]Nhân danh triều đình Ai Cập, quân đội Anh dưới sự chỉ huy của tướng Horatio Kitchener mở cuộc hành quân tái chiếm Sudan vào cuối thế kỷ XIX. Trong ba năm từ năm 1896 đến 1898 quân Anh đánh tan lực lượng Mahdi. Trận quyết liệt nhất là trận Omdurman (Umm Durman) ngày 2 Tháng Chín khi hơn năm vạn quân Mahdi giao chiến thì quá nửa bị thương vong. Sau đó hai nước Anh và Ai Cập lập cơ chế đồng trị xứ Sudan tuy trên thực tế chính phủ Anh là chủ lực cai trị Sudan như một thuộc địa.
Ai Cập đã nhiều lần muốn hợp nhất Sudan vào Ai Cập nhưng Luân Đôn không ưng thuận. Chính phủ Anh còn chia Sudan ra hai phần, miền Bắc đa số theo Hồi giáo và miền Nam theo đạo Thiên Chúa.
Khi Anh chấm dứt cuộc chiếm đóng Ai Cập năm 1936 thì chính giới Ai Cập càng thúc giục việc hợp nhất với Sudan. Năm 1952, phe quân đội Ai Cập đảo chánh, lật đổ vương triều cũ và lập nền cộng hòa. Chính phủ mới cũng tuyên bố hủy bỏ chính thể đồng trị ở Sudan. Vì Anh xưa kia đã nhân danh quốc vương Ai Cập mà đem quân vào Sudan, nay Ai Cập rút lui thì Anh cũng không còn lý do pháp lý nào để tiếp tục cai trị Sudan. Năm 1954, Anh và Ai Cập đồng thuận trao trả độc lập cho Sudan. Hai năm sau, ngày 1 Tháng Giêng 1956 nước Sudan độc lập ra đời.
Độc lập (1956 – hiện tại)
[sửa | sửa mã nguồn]Ngay từ trước khi Sudan độc lập hai miền Nam Bắc Sudan đã có nhiều xung đột. Miền Nam mang đậm nét văn hóa bản địa với số đông dân chúng thờ thần linh thiên nhiên hay theo đạo Thiên Chúa. Miền Bắc thì có nhiều liên hệ với khối Ả Rập Trung Đông và thế giới Hồi giáo. Khác biệt này được người Anh đẩy mạnh với một số luật cấm người phía bắc vĩ tuyến 10 không được di chuyển về phương nam, và ngược lại người phía nam vĩ tuyến 8 không được ra bắc. Trên lý thuyết luật này được ban hành để ngăn chặn bệnh sốt rét không lan lên miền Bắc nhưng cũng có hậu quả ngăn cản đạo Hồi không bành trướng về phương nam. Tác dụng thứ hai là đạo Thiên Chúa được tự do truyền bá ở miền Nam không bị đạo Hồi kiềm chế. Đây là mầm mống xung khắc giữa hai miền.
Cuộc nội chiến, còn gọi là "Loạn Anyanya" bùng nổ khi chính phủ miền Bắc hủy bỏ kế hoạch lập một thể chế liên bang để cai trị hai miền vốn có nhiều bất đồng. Chiến tranh lúc khởi đầu là chiến tranh du kích ở tỉnh Al-Istiwa'iyah/Equatoria rồi lan sang hai tỉnh A'aly an-Nyl (Thượng Nin) và Bahr el Ghazal. Quân phiến loạn bị chia rẽ vì lý do chủng tộc nhưng phe chính phủ cũng bị phe phái tranh nhau làm suy yếu. Năm 1958 ở thủ đô Khartoum tướng Ibrahim Abboud lãnh đạo cuộc đảo chính nhưng cũng không ổn định được tình hình. Nhiều chính phủ khác liên tiếp lên nắm quyền cũng không giải quyết được cuộc chiến Bắc Nam. Năm 1969 Gaafar Nimeiry cướp chính quyền và ngăn cấm mọi đảng phái chính trị nhưng rồi bị truất. Đảng Cộng sản Sudan cùng các nhóm Mác-xít đứng ra chấp chính nhưng liền bị Nimeiry đánh bại.
Trong khi đó ở miền Nam năm 1971, Joseph Lagu thống nhất các nhóm du kích dưới tổ chức SSLM (Southern Sudan Liberation Movement, tức Phong trào Giải phóng Nam Sudan) và đứng ra điều đình với chính phủ Nimeiry. Các tổ chức quốc tế cũng tham gia bảo trợ cuộc đàm phán. Kết quả là Hiệp định Addis Ababa ký năm 1972 kết thúc 17 năm xung đột. Giá Sudan đã phải trả là nửa triệu người tử vong và hàng trăm nghìn dân tỵ nạn bị ly tán. Theo hiệp ước đó thì miền Nam Sudan được tự trị và hòa bình tái lập nhưng khác biệt cơ bản giữa hai miền vẫn không thay đổi. Hiệp định Addis Ababa cốt chỉ là tạm thời cho đến khi một giải pháp tổng thể được hoạch định.

Trong mười năm đình chiến từ 1972 đến 1982, chính quyền miền Nam Sudan được rộng quyền tự trị nhưng Tổng thống Nimeiry năm 1983 đòi đẩy mạnh chính sách "Hồi hóa" toàn quốc bằng cách ban hành bộ luật mới căn cứ theo luật Shari'a của đạo Hồi. Ở miền Bắc Nimeiry tuyên bố thiết quân luật để được rộng quyền áp dụng Shari'a. Theo luật mới thì kẻ trộm cắp bị hình phạt chặt tay. Ai chứa chấp rượu thì bị đánh bằng roi bất kể người đó có theo đạo hay không.
Dân miền Nam Sudan chống lại chính sách mới của chính phủ Khartoum. Cũng năm 1983 tổ chức SPLA (Sudan People's Liberation Army, "Quân đội Giải phóng Nhân dân Sudan") ra đời do John Garang lãnh đạo với yêu sách độc lập cho miền Nam Sudan. Tháng Chín năm 1984 Nimeiry tuyên bố sẽ miễn không áp dụng Shari'a cho những ai không theo đạo Hồi nhưng nhóm SPLA vẫn không giải giáp. Dựa trên chủ thuyết Mác-xít lực lượng SPLA được khối Cộng sản gồm Liên Xô và Ethiopia viện trợ vũ khí và quân nhu.
Cuộc chiến thêm cam go vì hạn hán và nạn đói hoành hành miền Nam Sudan. Tháng Tư năm 1985 trong khi Nimeiry xuất ngoại, tướng Abdul Rahman Suwar ad-Dahhab mở cuộc đảo chánh, hủy bỏ chính sách "Hồi hóa". Tuy nhiên bộ luật Shari'a vẫn để nguyên. Chính phủ kế tiếp là do thủ tướng dân lập Sadiq al-Mahdi ra chấp chính đại diện liên minh ba đảng:
- Hizb al-Umma (đảng Umma);
- Al Hizb Al-Ittihadi Al-Dimuqrati, thường viết tắt là DUP (Democratic Unionsit Party, "Đảng Thống nhất Dân chủ") và
- Al-Jabhah al-Islamiyah al-Qawmiyah, viết tắt là NIF (National Islamic Front, "Mặt trận Hồi giáo Quốc gia").
Sang năm 1986 thì Khartoum mở hòa đàm với nhóm SPLA của Garang để vãn hồi hòa bình. Năm 1988 đảng DUP cùng SPLA ký chung một thỏa thuận dựa trên hội nghị Koka Dam trước kia tại Ethiopia, trong đó có ba điểm chính:
- Ngưng bắn
- Ngưng áp dụng luật Shari'a
- Chấm dứt thiết quân luật. Sau đó sẽ tổ chức hội nghị lập hiến để vạch một đường đi mới cho cả nước Sudan.
Trong khi đó chiến tranh càng thêm khốc liệt. Tình hình kinh tế càng khó khăn vì vật giá tăng nhanh. Vì không muốn nhượng bộ phe miền Nam, thủ tướng Sadiq al-Mahdi không chịu thông qua hòa ước giữa DUP và SPLA. Kết quả là Tháng Mười Một năm 1988 đảng DUP rút khỏi liên minh chính phủ. Đầu năm 1989 phe quân đội ra tối hậu thư đòi chính phủ phải xúc tiến hòa đàm nếu không sẽ đảo chính. Dưới áp lực đó Sadiq al-Mahdi đành thông qua hòa ước, đợi ngày hội nghị lập hiến Tháng Chín.
Thời kỳ Bashir (1989–2019)
[sửa | sửa mã nguồn]Ngày 30 tháng 6 năm 1989, Đại tá Omar al-Bashir tiến hành một cuộc đảo chính quân sự.[24] Chính phủ quân quản mới đình chỉ hệ thống đa đảng và ban hành bộ luật Hồi giáo trên cả nước.[25] Sau đó, al-Bashir tiến hành thanh trừng, xử tử hàng ngũ cấp cao trong quân đội, cấm các hiệp hội, chính đảng, báo chí độc lập và bỏ tù các chính trị gia, nhà báo tiêu biểu.[26] Ngày 16 tháng 10 năm 1993, al-Bashir tự phong làm tổng thống, giải tán Hội đồng tư lệnh cách mạng và tiếp quản quyền hành pháp, lập pháp của hội đồng.[27]
Trong cuộc tổng tuyển cử năm 1996, al-Bashir là ứng cử viên hợp pháp duy nhất.[28] Sudan trở thành một nhà nước độc đảng dưới Đảng Đại hội Quốc gia (NCP).[29] Vào thập niên 1990s, Hassan al-Turabi, khi đó là chủ tịch Quốc hội, liên lạc với các nhóm toàn thống Hồi giáo và mời Osama bin Laden vào Sudan.[30] Hoa Kỳ sau đó chỉ định Sudan là một quốc gia tài trợ cho khủng bố.[31] Sau vụ đánh bom đại sứ quán Hoa Kỳ tại Kenya và Tanzania vào năm 1998 do Al-Qaeda chủ mưu, Hoa Kỳ tiến hành Chiến dịch Infinite Reach và phá hủy nhà máy dược phẩm Al-Shifa dựa trên thông tin sai lệch rằng nhà máy sản xuất vũ khí hóa học cho Al-Qaeda. Al-Turabi bắt đầu thất thế và những thành phần thực dụng trong chính quyền bắt đầu vận động chấm dứt thế cô lập quốc tế của Sudan.[32] Sudan trục xuất các thành viên của Jihad Hồi giáo Ai Cập và kêu gọi bin Laden ra nước ngoài.[33]
Ngoài lực lượng quân đội chính quy, chính phủ quân phiệt còn dùng nhóm al-Difaa al-Shaabi, viết tắt là PDF (People's Defense Forces, "Lực lượng Phòng vệ Nhân dân") để càn quét các tỉnh miền Nam. Quân Sudan kiểm soát những thị trấn lớn như Juba, Wau, và Malakal nhưng quân SPLA thì vẫn chiếm đóng phần lớn các tỉnh phía Nam. Tình hình thêm rối loạn khi quân SPLA vì bất đồng nội bộ phân hóa thành mấy nhóm: nhóm Nasir, nhóm của Bany và nhóm Bol.
Dù vậy các cuộc hòa đàm dần dần có kết quả và Hiệp ước Hòa bình Tổng thể được ký ở Nairobi vào Tháng Giêng năm 2005. Hiệp ước đó cho phép quân đội hai miền không phải giải giới và được giữ nguyên vị trí nhưng miền Nam được sáu năm tự trị. Tiếp theo đó là cuộc trưng cầu dân ý để quyết định chính thể cho miền Nam. Lợi tức tài nguyên dầu lửa sẽ được chia đôi. Để hợp nhất hai chính phủ, Garang được thâu nạp làm một trong hai phó tổng thống Sudan. Tiếc thay Tháng Tám năm 2005 trong một phi vụ trực thăng, máy bay rớt và Garang tử thương. Phe SPLA nổi dậy làm loạn đốt phá nhưng tình hình dần lắng dịu. Liên hiệp Quốc cũng giúp sức với các dự án cứu trợ nhân đạo và phổ biến nhân quyền ở Sudan, làm ổn định xã hội. Vấn đề chưa giải quyết là chủ quyền hạt Abyei với nhiều mỏ dầu thô. Cả hai phe Bắc và Nam đều đòi quyền cai trị khu vực này.
Sau sáu năm tự trị (2005-2011) miền Nam Sudan theo Hiệp ước Hòa bình Tổng thể ký ở Nairobi năm 2005 mở cuộc trưng cầu dân ý kéo dài một tuần từ 9 Tháng Giêng đến 15 Tháng Giêng 2011 để quyết định chính thể cho miền Nam. Dân miền Nam muốn bỏ phiếu phải ghi danh. Phòng phiếu cũng mở ở miền Bắc để dân Nam cư trú ở miền Bắc có thể đi bầu. Ở hải ngoại như Úc, Canada, Ai Cập, Ethiopia, Kenya, Uganda, Anh và Hoa Kỳ cũng có phòng phiếu để người Nam Sudan lưu vong tham gia.[34]
Kết quả cuộc trưng cầu dân ý gần 98,83% số phiếu ủng hộ độc lập cho miền Nam. Chính phủ trung ương tuyên bố sẽ chấp nhận quyết định của đại đa số và sẽ xúc tiến bàn giao.[35]